Người mất năng lực hành vi dân sự

mat nang luc hanh viLiệu để được pháp luật công nhận một người là mất năng lực hành vi dân sự, có cần thiết phải qua Tòa án? Theo quan điểm của tôi là không cần thiết.

Trong các quan hệ pháp luật dân sự, chắc hẳn một số người đã gặp trường hợp có liên quan đến những người được pháp luật gọi là “mất năng lực hành vi dân sự”. Chẳng hạn như trong quá trình làm công việc liên quan đến công chứng, tôi gặp một số trường hợp người phải ký vào văn bản công chứng là người mất năng lực hành vi dân sự. Nếu không có xác nhận hay một hình thức tương tự liên quan đến những người này thì không thể công chứng theo quy định. Thông thường, nhiều khách hàng khi đến công chứng có người thân, người nhà như vậy, họ thường gọi những người như vậy là “người bị tâm thần”, “người không biết gì cả” , “bị thần kinh” hay “đầu óc có vấn đề”… Họ hiểu đơn giản như vậy và cũng mặc định cho rằng công chứng viên cũng đương nhiên có quyền công nhận nhưng người như vậy là “người mất năng lực hành vi dân sự”.

Vậy theo quy định của pháp luật, người mất năng lực hành vi dân sự là gì, trước tiên hãy cùng tìm hiểu qua về khái niệm pháp lý để hình dung được phần nào những nội dung tôi muốn nói trong bài viết này

Theo Điều 17 Bộ luật dân sự 2005 thì Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

Cũng theo quy định trong Bộ luật này thì:

Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (trừ trường hợp bị mất hoặc hạn chế).

Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự

(Nhưng nội dung trên có thể tham khảo thêm tại Điều 18, 19, 20, 21 Bộ luật dân sự 2005. Tôi không trích dẫn đầy đủ bởi vì các nội dung còn lại không phục vụ cho mục đích của bài viết này)

Vậy như thế nào được pháp luật coi là người mất năng lực hành vi dân sự, khái niệm này được quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự 2005, như sau: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.”

Theo suy nghĩ thông thường trong cuộc sống hàng ngày, nhiều người có thể mặc nhiên coi rằng, những người tôi nêu ví dụ ở phần đầu và trong định nghĩa nên trên đó là người mất năng lực hành vi dân sự. Cá nhận tôi cho rằng đó là suy nghĩ và cách tư duy phần nào đó khá hợp lý. Vì vậy vấn đề chính tôi muốn đề cập trong bài này là việc pháp luật Việt Nam công nhận thế nào là một người là người mất năng lực hành vi dân sự

Nếu như đọc phần trích dẫn Điều 22 nêu trên, người đọc có thể hình dung phần nào quy trình thủ tục để được pháp luật công nhận là người mất năng lực hành vi dân sự.

Tôi xin tóm tắt ngắn gọn như sau: Để được pháp luật công nhận một người là người mất năng lực hành vi dân sự, trước tiên và cũng là điều kiện bắt buộc là người có liên quan phải nộp Đơn yêu cầu lên Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự. Kèm theo đơn yêu cầu là kết luận của cơ quan chuyên môn hoặc các chứng cứ khác chứng minh người đó bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi.

Tòa án sau khi thụ lý đơn sẽ làm các thủ tục và trong một số trường hợp có thể yêu cầu trưng cầu giám định về sức khỏe, bệnh tật của người đang bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Sau khi đánh giá hồ sơ, các tài liệu, chứng cứ, kết luận giám định (nếu có) và thực tế, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận hoặc không công nhận người mất năng lực hành vi dân sự.

Thời hạn để hoàn thành thủ tục nêu trên (tức là người yêu cầu nhận được quyết định công nhận hoặc không công nhận) có thể lên đến 45 ngày hoặc hơn.

Như vậy một người chưa được coi là mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật khi chưa có quyết định công nhận của Tòa án nhân dân có thẩm quyền.

Vấn đề tôi muốn nói ở đây đó là, liệu để được pháp luật công nhận một người là mất năng lực hành vi dân sự, có cần thiết phải qua Tòa án? Theo quan điểm của tôi là không cần, vì những lý do sau:

– Việc xác định một người có mất năng lực hành vi dân sự hay không, Tòa án không thể tự xác định mà bắt buộc phải có giấy tờ của một tổ chức giám định có chức năng giám định tâm thần, có thể là Bệnh viện hoặc một tổ chức giám định y khoa. Và tôi chắc rằng đó sẽ là căn cứ chính và chủ yếu để Tòa án ra quyết định.

– Một người khi đã có chứng nhận của một bệnh viện hoặc tổ chức giám định y khoa (trước khi Tòa án trưng cầu giám định) nhưng những người có liên quan lại vẫn phải đợi để Tòa án công nhận dường như là một thủ tục thừa, rườm rà và gây phiền toái cũng như làm mất thời gian của người dân. Trong khi có thể người dân đang rất cần thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến người mất năng lực hành vi dân sự.

Như tôi đã từng gặp trường hợp một người có Giấy chứng nhận khuyết tật, trong đó ghi: Tâm thần nhưng công chứng viên vẫn không thể công chứng vì chưa có quyết định công nhận mất NLHV của Tòa án.

Giải pháp mà tôi đưa ra trong trường hợp này, đó là:

– Pháp luật có thể quy định những tổ chức y khoa có chức năng cấp Giấy chứng nhận về năng lực hành vi dân sự và những tổ chức này sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận của mình (để tránh việc người dân lợi dụng móc nối hoặc thỏa thuận với tổ chức y khoa để tạo chứng cứ giả). Chỉ cần có kết luận nêu trên, coi như người đó đã được coi là người mất năng lực hành vi dân sự, bất cứ cơ quan, tổ chức nào có liên quan nếu như nhận được kết luận đó là đã đủ điều kiện để thực hiện các giao dịch mà không cần qua sự công nhận của Tòa án.

– Nếu như tổ chức y khoa được chỉ định làm sai thì đã có những quy định pháp luật khác kèm với những chế tài để điều chỉnh về vấn đề này.

– Việc chỉ định người đại diện vẫn áp dụng theo quy định tại Bộ luật dân sự, lúc này thẩm quyền sẽ chỉ còn thuộc về UBND hoặc có thể mở rộng cho các tổ chức công chứng

Nội dung trên cũng tương tự đối với trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Đó là Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự – Điều 23 Bộ luật dân sự 2005)

Bộ luật dân sự 2005 sẽ hết hiệu lực vào ngày 01/01/2017 và được thay thế bằng Bộ luật dân sự 2015, quy định về người mất năng lực hành vi dân sự có sửa đổi, bổ sung nhưng về cơ bản vẫn phải có quyết định của Tòa án.

Hy vọng bài viết này sẽ phần nào giúp ích cho những ai quan tâm. Nếu có ý kiến hay câu hỏi liên quan, các bạn có thể gửi phản hồi ở dưới bài viết này, hoặc liên hệ riêng với chúng tôi.

Bạn cũng có thể ấn nút “Theo dõi” để cập nhật các thông báo về bài viết mới nhất của chúng tôi qua email.

Người mất năng lực hành vi dân sự
4.8 9 votes
Lưu ý khi bình luận để nhận được phản hồi:
# Bạn hãy cung cấp email chính xác.
# Vui lòng viết bằng tiếng Việt có dấu.
# Hãy cố gằng tìm kiếm trên trang web và trong phần bình luận trước khi đặt câu hỏi.
Mọi bình luận/câu hỏi tiếng Việt không có dấu sẽ không nhận được phản hồi.

Leave a Reply

Bình luận (8)

  1. Nguyễn văn Phú
    30/11/2016 17:42
      • Nguyễn Văn Phú
        30/01/2017 10:11