Bạn đã bao giờ nghe về “Giao dịch dân sự với chính mình”?

Đã khá lâu tôi không đăng bài mới (nhưng vẫn trả lời câu hỏi tư vấn thường xuyên tại đây) do đang bận “phiêu lưu” ở lĩnh vực mới là công chứng, công việc của bên công chứng quả là bận rộn hơn bên luật sư, tuy nhiên cũng nhờ chuyến phiêu lưu này mà tôi mới xuất bản được bài viết hôm nay .

Bạn là chủ 1 công ty, doanh nghiệp và bạn cũng là chủ một tài sản là nhà đất, bất động sản. Khi doanh nghiệp cần vay vốn để kinh doanh, bạn mang tài sản của mình để thế chấp cho ngân hàng nhưng khi đi công chứng thì lại bị từ chối vì lý do: “giao dịch với chính mình”

Bạn đã bao giờ gặp trường hợp như vậy chưa? Bài viết hôm nay tôi sẽ nói về vấn đề này.

Vấn đề giao dịch dân sự với chính mình thường được đặt ra tại các Hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác, trong đó người khác thường là một doanh nghiệp. Tình huống cụ thể hơn như sau:

Ông A thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của riêng ông A cho Ngân hàng B để đảm bảo cho khoản vay của Công ty C do ông A là đại diện theo pháp luật. Như vậy, có thể mô tả một cách đơn giản là Hợp đồng thế chấp trong trường hợp này sẽ có 3 bên thực hiện giao dịch, trong đó Bên nhận thế chấp là Ngân hàng, Bên thế chấp là ông A và Bên được bảo đảm (Bên vay) là Công ty C do ông A đại diện. Như vậy ông A sẽ ký vào Hợp đồng thế chấp với 2 tư cách: Bên thế chấp và đại điện cho Bên được bảo đảm. Khi Hợp đồng thế chấp được mang ra các tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện việc công chứng thì đã có những quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Giao dịch nêu trên đã vi phạm quy định tại Khoản 3, Điều 141 Bộ luật dân sự 2015, như sau:“Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Trong trường hợp nêu trên ông A là cá nhân đã nhân danh người đại diện của công ty C để xác lập thực hiện giao dịch dân sự với chính ông A với tư cách là chủ tài sản thế chấp. Do đó Hợp đồng thế chấp sẽ không được công chứng do vi phạm quy định nêu trên.

Cách giải quyết theo quan điểm này được đưa ra đó là: Ông A ủy quyền cho một cá nhân khác đủ thẩm quyền trong công ty C để ký đại diện cho công ty C, như vậy sẽ không vi phạm quy định tại Khoản 3, Điều 144 Bộ luật Dân sự 2015, do bên thế chấp và bên được bảo đảm (bên vay vốn) là 2 người khác nhau ký vào Hợp đồng thế chấp.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Giao dịch dân sự nêu trên là phù hợp với các quy định của pháp luật, ông A có thể ký vào hợp đồng với cả 2 tư cách là bên thế chấp và đại diện của bên được bảo đảm (bên vay vốn). Căn cứ vào quy định tại Khoản 3, Điều 144 Bộ luật dân sự 2015 có nội dung: trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp pháp luật có quy định khác ở đây là những quy định tại Điều 67, 86 và 162 của Luật Doanh nghiệp 2014.

Điều 67. Hợp đồng, giao dịch phải được Hội đồng thành viên chấp thuận
1. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Hội đồng thành viên chấp thuận:
a) Thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty;
b) Người có liên quan của những người quy định tại điểm a khoản này;
c) Người quản lý công ty mẹ, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ;
d) Người có liên quan của người quy định tại điểm c khoản này.
2. Người ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho các thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch dự định tiến hành. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng thành viên phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo; trong trường hợp này, hợp đồng, giao dịch được chấp thuận nếu có sự tán thành của số thành viên đại diện ít nhất 65% tổng số vốn có quyền biểu quyết. Thành viên có liên quan trong các hợp đồng, giao dịch không được tính vào việc biểu quyết.
3. Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết không đúng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, gây thiệt hại cho công ty. Người ký kết hợp đồng, giao dịch, thành viên có liên quan và người có liên quan của thành viên đó phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch được ký kết không đúng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này hoặc gây thiệt hại cho công ty.

Điều 86. Hợp đồng, giao dịch của công ty với những người có liên quan
1. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, hợp đồng, giao dịch giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu với những người sau đây phải được Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên xem xét quyết định:
a) Chủ sở hữu công ty và người có liên quan của chủ sở hữu công ty;
b) Thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; :
c) Người có liên quan của những người quy định tại điểm b khoản này;
d) Người quản lý của chủ sở hữu công ty, người có thẩm quyền bổ nhiệm những người quản lý đó;
đ) Người có liên quan của những người quy định tại điểm d khoản này.
Người ký kết hợp đồng phải thông báo cho Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; đồng thời kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch đó.
2. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Kiểm soát viên phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo theo nguyên tắc đa số, mỗi người có một phiếu biểu quyết; người có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết.
3. Hợp đồng, giao dịch quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được chấp thuận khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Các bên ký kết hợp đồng hoặc thực hiện giao dịch là những chủ thể pháp lý độc lập, có quyền, nghĩa vụ, tài sản và lợi ích riêng biệt;
b) Giá sử dụng trong hợp đồng hoặc giao dịch là giá thị trường tại thời điểm hợp đồng được ký kết hoặc giao dịch được thực hiện;
c) Chủ sở hữu công ty tuân thủ đúng nghĩa vụ quy định tại khoản 4 Điều 76 của Luật này.
4. Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật nếu được ký kết không đúng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, gây thiệt hại cho công ty. Người ký hợp đồng và người có liên quan là các bên của hợp đồng liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại phát sinh và hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó.
5. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu với chủ sở hữu công ty hoặc người có liên quan của chủ sở hữu công ty phải được ghi chép lại và lưu giữ thành hồ sơ riêng của công ty.

Điều 162. Hợp đồng, giao dịch phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận
1. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận:
a) Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ;
b) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người có liên quan của họ;
c) Doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 159 Luật này.
2. Hội đồng quản trị chấp thuận các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính, gần nhất hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp này, người đại diện công ty ký hợp đồng phải thông báo các thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; đồng thời kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch. Hội đồng quản trị quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một thời hạn khác; thành viên có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết.
3. Đại hội đồng cổ đông chấp thuận các hợp đồng và giao dịch khác ngoài các giao dịch quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp này, người đại diện công ty ký hợp đồng phải thông báo Hội đồng quản trị và Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; đồng thời kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch. Hội đồng quản trị trình dự thảo hợp đồng hoặc giải trình về nội dung chủ yếu của giao dịch tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản. Trường hợp này, cổ đông có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết; hợp đồng hoặc giao dịch được chấp thuận khi có số cổ đông đại diện 65% tổng số phiếu biểu quyết còn lại tán thành, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác.
4. Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết hoặc thực hiện mà chưa được chấp thuận theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, gây thiệt hại cho công ty; người ký kết hợp đồng, cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có liên quan phải liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó.

Có thể hiểu một cách ngắn gọn quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 là Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với người đại diện theo pháp luật, giám đốc, tổng giám đốc của công ty phải được Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông chấp thuận tùy vào loại hình doanh nghiệp. Như vậy cũng có thể hiểu rằng trường hợp ông A chỉ cần có văn bản thể hiện sự chấp thuận của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông là ông A có thể ký vào hợp đồng với cả 2 tư cách là bên thế chấp và đại diện của bên được bảo đảm (bên vay vốn) mà không hề vi phạm các quy định của pháp luật.

Quan điểm của tôi đó là đồng ý với quan điểm thứ 2, vì vậy, nếu như bạn gặp trường hợp tương tự và bị từ chối, bạn có thể trích dẫn các quy định nêu trên trong Luật Doanh nghiệp 2014 và đề nghị người từ chối giải thích lý do và căn cứ của việc từ chối nhé.

Như vậy bạn đã hiểu như thế nào là: “Giao dịch với chính mình” chưa? Hy vọng bài viết này sẽ phần nào giúp bạn hiểu hơn về quy định đó.

Nếu có ý kiến hay câu hỏi liên quan, các bạn có thể gửi phản hồi ở dưới bài viết này, hoặc liên hệ riêng với chúng tôi để được tư vấn và giải đáp.

Bạn cũng có thể ấn nút “Theo dõi” để cập nhật các thông báo về bài viết mới nhất của chúng tôi qua email.

Bạn đã bao giờ nghe về “Giao dịch dân sự với chính mình”?
5 2 votes
Lưu ý khi bình luận để nhận được phản hồi:
# Bạn hãy cung cấp email chính xác.
# Vui lòng viết bằng tiếng Việt có dấu.
# Hãy cố gằng tìm kiếm trên trang web và trong phần bình luận trước khi đặt câu hỏi.
Mọi bình luận/câu hỏi tiếng Việt không có dấu sẽ không nhận được phản hồi.

Bình luận

One Response